Từng là vùng đất chịu cảnh nước mặn xâm nhập gần như quanh năm, sản xuất nông nghiệp bấp bênh, đời sống người dân nhiều khó khăn, vùng Gò Công hôm nay đã khoác lên mình diện mạo mới với những cánh đồng lúa xanh tốt, vùng rau màu và cây ăn trái phát triển.
Thành quả ấy gắn liền với Dự án Ngọt hóa Gò Công, một trong những công trình thủy lợi có ý nghĩa đặc biệt đối với khu vực phía Đông tỉnh.
TỪ VÙNG ĐẤT “KHÁT” NƯỚC NGỌT.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp, Dự án Ngọt hóa Gò Công có quy mô phục vụ khoảng 54.400 ha diện tích tự nhiên. Công trình được nghiên cứu từ năm 1970 và bắt đầu đầu tư xây dựng các công trình kiểm soát nguồn nước từ năm 1976 đến năm 1995.
Trước khi hệ thống thủy lợi được hình thành, Gò Công là vùng sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
Hàng năm, nước mặn theo thủy triều xâm nhập sâu vào nội đồng, trong khi nguồn nước ngọt lại khan hiếm. Người dân chủ yếu chỉ sản xuất được một vụ lúa vào mùa mưa với năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Khang, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đồng Tháp, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang, trước khi có dự án ngọt hóa, nước thủy triều ở khu vực Gò Công lên xuống tự do.
Ngoài việc chỉ canh tác được 1 vụ lúa, vùng này hầu như không thể trồng cây ăn trái, rau màu. Rau màu, trái cây chỉ trồng được trên đất giồng cát như: Mãng cầu ta, sơ ri, chứ không trồng được dưới ruộng.
Gia đình ông Nguyễn Văn Vẹn (72 tuổi, ngụ xã Tân Hòa, tỉnh Đồng Tháp) sinh sống gần cuối nguồn Ngọt hóa Gò Công.
Khi nhắc lại giai đoạn những năm 1975, ông Vẹn vẫn không quên những ngày tháng gian khó. Theo ông Vẹn, trước khi có Dự án Ngọt hóa Gò Công, gia đình ông cũng như nhiều hộ dân địa phương chỉ làm được 1 vụ lúa.
“Thời điểm đó, nông dân canh tác lúa mùa, mỗi vụ kéo dài khoảng 6 tháng. Khi nước ngoài sông ngọt thì bà con bắt đầu gieo mạ. Sau khi mạ lớn, người dân mới tiến hành cấy lúa.
Do làm 1 vụ lúa, đông con nên cuộc sống của gia đình rất khó khăn. Lúa thu hoạch xong được dí vào bồ để dành ăn chứ không có bán. Do nước mặn, nên cây trái, rau màu đều không sống nổi, chỉ có một số khu vực đất giồng là trồng được mãng cầu ta”, ông Vẹn chia sẻ.
Gia đình ông Võ Văn Cò (75 tuổi, ngụ xã Tân Điền, tỉnh Đồng Tháp) đang canh tác 1,6 ha lúa. Theo ông Cò, trước khi có Dự án Ngọt hóa Gò Công, cuộc sống người dân nơi đây rất khó khăn. Do là khu vực gần tiếp giáp biển nên mỗi năm chỉ làm được 1 vụ lúa.
Một số diện tích đất nhiễm mặn nặng không thể trồng lúa, đành phải bỏ hoang. “Cuộc sống hồi đó thiếu trước hụt sau. Đến mùa nước mặn phải bỏ xứ đi nơi khác làm thuê kiếm sống.
Nước uống, sinh hoạt chủ yếu là nước mưa chứa trong các lu hoặc nước sông lóng phèn, chứ đâu có được như bây giờ”, ông Cò bồi hồi nhớ lại.
ĐẾN CÔNG TRÌNH LỊCH SỬ.
Từ những khó khăn của người dân, chủ trương xây dựng hệ thống ngăn mặn, trữ ngọt cho vùng Gò Công được triển khai.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Khang, ở giai đoạn đầu, Dự án Ngọt hóa Gò Công tập trung xây dựng các công trình ngăn mặn tại khu vực phía Bắc Quốc lộ 50.
Trong đó, một số công trình lớn được xem là những hạng mục quan trọng của hệ thống thời điểm đó như: Cống Gò Gừa và các cống ngăn mặn khác.
Bước sang giai đoạn thứ 2, dự án được mở rộng sang khu vực phía Nam với việc xây dựng cống Vàm Giồng cùng các công trình liên quan. Đến giai đoạn thứ ba, phạm vi đầu tư tiếp tục được mở rộng ra vùng ven biển nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống kiểm soát nguồn nước cho toàn khu vực.
Đến năm 1997, Dự án Ngọt hóa Gò Công cơ bản hoàn thành các công trình quan trọng, gồm hệ thống cống ngăn mặn chính và các trục dẫn nước chủ lực.
Trong đó, công trình lớn đầu tiên ở khu vực phía đầu nguồn là cống Xuân Hòa – Cầu Ngang. Đây là công trình giữ vai trò lấy nước chủ đạo cho toàn hệ thống. Từ cống Xuân Hòa – Cầu Ngang, nguồn nước ngọt được dẫn vào trục kênh 14, Vàm Giồng….
Cũng theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Khang, sau khi hệ thống ngọt hóa Gò Công vận hành, nhiều tuyến kênh ngang và kênh lớn tiếp tục được đầu tư mở rộng nhằm đưa nước đến các khu vực sản xuất. Trong đó có các tuyến kênh như: Saliset, Trần Văn Dõng…
Đây là những công trình được triển khai sau khi các cống đầu mối cơ bản hoàn thành, góp phần hoàn thiện mạng lưới dẫn nước trong toàn vùng….
Thực tế cho thấy, sự ra đời của hệ thống ngọt hóa đã tạo bước ngoặt lớn đối với sản xuất nông nghiệp khu vực.
Ông Võ Văn Việt (69 tuổi, ngụ ấp Phú Quới, xã Phú Thành, tỉnh Đồng Tháp) cho biết, từ sản xuất 1 vụ lúa, sau khi công trình ngọt hóa Gò Công được triển khai, đến khoảng năm 1984, gia đình ông đã bắt đầu làm lúa 2 vụ và tiến lên 3 vụ.
Ông Việt chia sẻ: “Ngọt hóa Gò Công đã giúp vùng đất này thay đổi. Nhờ làm lúa được 3 vụ nên từ cuộc sống chật vật, nhiều người đã có đủ gạo ăn. Ngoài cây lúa, nông dân còn phát triển đa dạng cây trồng. Cuộc sống của người dân có sự thay đổi lớn”.
Theo Chi cục Trưởng Chi cục Phát triển nông thôn – Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Thị Mỹ Hưng, sau khi Dự án Ngọt hóa Gò Công được hình thành, khu vực này từ chỗ chỉ canh tác được một vụ lúa vào mùa mưa đã biến thành vùng đất có thể canh tác đa dạng.
Dự án giúp hình thành một số vùng trồng cây màu và cây ăn trái đặc sản mang tính thử nghiệm của Gò Công như: Dưa hấu, sơ ri.
Bên cạnh đó, việc chủ động kiểm soát nguồn nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân ổn định sinh kế, mạnh dạn đầu tư và phát triển chiều sâu.
Hiện nay, tiểu vùng hệ thống Gò Công đang có xu hướng chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng giảm diện tích đất trồng lúa để chuyển sang trồng cây ăn trái và rau màu.
Dự án đóng vai trò là nền tảng thiết yếu, tạo động lực cốt lõi để phát triển kinh tế – xã hội của vùng phía Đông của tỉnh.
Từ một vùng đất thường xuyên chịu tác động của hạn hán và xâm nhập mặn, Gò Công đã vươn mình trở thành khu vực sản xuất nông nghiệp năng động của vùng ven biển.
Thành công đó là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của các công trình thủy lợi trong việc khai thác tiềm năng đất đai, thích ứng với điều kiện tự nhiên và tạo động lực phát triển bền vững cho địa phương.
T. ĐẠT
(còn tiếp).
Nguồn: https://baodongthap.vn/bai-1-hanh-trinh-hoi-sinh-vung-dat-nhiem-man-a242241.html

